Một khi đã đứng trên tư thế của một người Việt yêu nước, tranh đấu cho Tự Do thì vấn đề « hòa giải, hòa hợp » tự nó không còn là vấn đề ít ra là cho chúng ta. Thật vậy, đấu tranh cho tự do ngụ ý tôn trọng quyền suy nghĩ khác biệt của kẻ khác, là gián tiếp thừa nhận trong xã hội dân chủ mọi khuynh hướng chính trị có quyền hiện hữu kể cả khuynh hướng tin vào Mác Lê. Trên thưc tế, còn mấy ai tin vào chủ thuyết đã sát hại cả trăm triệu người trong vòng chưa đầy một trăm năm từ khi Lenin cướp chính quyền cho đến nay. Ngay cả giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã thấy rõ cái giấc mơ xây dựng thế giới đại đồng trong đó con người không còn bóc lột con người chỉ là ảo tưởng. Hôm nay, họ xử dụng chủ thuyết hay đúng ra phương thức công an trị do Lenin đề ra và Staline kiện toàn chỉ để nắm giữ quyền bính trong mục tiêu vơ vét tiền của. Sự lường gạt này không còn hiệu quả đối với nhân dân ta và họ chỉ còn lừa gạt được những đảng viên trung kiên vì bị nhồi sọ lâu năm. Vấn để « hòa giải, hòa hợp » chính là vấn đề của người cộng sản. Sau bao năm bị tuyên truyền, bị ép buộc đi theo lề phải họ vẫn tin rằng Đảng luôn luôn đúng do đó họ khó chấp nhận hòa giải chứ đừng nói đến hòa hợp với những thành phần yêu nước không Cộng sản. Hãy lấy trường hợp Ông Tô Hải. Mãi tới gần cuối cuộc đời, ông mới có câu « Tôi là thằng hèn ». Hèn vì đã nhận thức từ lâu là Đảng không độc quyền nắm chân lý, Đảng là lừa gạt, Đảng chính là thủ phạm đã đưa đẩy cả một thế hệ trẻ đi vào cỏi chết cho một cuộc chiến vô lý và vô ích. Nhận thức được và dám nói lên điều đó, sau bao năm tiếp tục sáng tác nhạc vinh danh Đảng, bao nhiêu năm im lặng cuối đầu là một hành động đáng khen ngợi. Nhưng nếu ông là một người hèn thì tất cả những người đã chết vì dám nói lên điều đó, đã chết để ngăn chặn không cho Đảng thu tóm cả miền nam quê hương có phải là những người yêu nước hay không ? Đa số những đảng viên đã sáng mắt vẫn chưa vượt qua lề trái để thừa nhận điều đó và lá cờ vàng vẫn có cái gì đó khiến họ dè dặt cho dù họ sẳn sàng đối thoại với những người « bên thua cuộc ». Nào khác gì khi ta nói với một người thiên chúa giáo tôi vui lòng đến thăm anh nhưng xin anh cất cái thánh giá đi. Rồi cũng có người sẵn lòng cất đi lá cờ vàng để tỏ thiện chí và tự khắc lại bị một số người khác lên án là không thật sự chống cộng. Cuộc đối thoại như thế chưa phải là sự hòa giải thật sự.
Quý trọng lá cờ là sự chọn lựa của mỗi người. Chúng ta hãnh diện với lá cờ của chúng ta thì không có lý do gì để cất nó trong tim. Chúng ta không ép buộc bất cứ ai cũng phải tôn vinh biểu tượng của chúng ta. Chúng ta chỉ yêu cầu người khác tôn trọng sự chọn lựa của chúng ta như chúng ta tôn trọng sự chọn lựa của họ. Hòa giải như vậy đúng là vấn để của phía « thắng cuộc » chứ không phải là vấn đề của chúng ta.
Vứt bỏ được hết những giáo điều do quá khứ và tình cảm đang trói buộc trí óc và con tim chúng ta để thấy rõ thế đứng của chúng ta là những người yêu nước, dấn thân cho lý tưởng Tự Do và Dân Chủ, gắn bó khắn khít với đồng bào trong nước, tâm ta sẽ nhẹ đi rất nhiều để tình yêu quê hương lan rộng. Hãy để tình yêu quê hương dẫn dắt mọi suy tư, mọi lời nói, mọi hành động của chúng ta thì đường ta đi sẽ bớt rất nhiều khó khăn.
Thực trạng của đất nước ngày nay rất đen tối, họa diệt vong đang chờ đón chúng ta. Chúng ta phải sống làm sao cho tổ tiên hãnh diện, chúng ta phải lo cho thế hệ mai sao. Hãy cởi trói tấm thức chúng ta để vui cái vui của đồng bào, khổ cái khổ của toàn dân.
Hãy đừng để đất nước Việt Nam trở thành một quán ăn mà người chủ quán là người nước ngoài, khách ăn cũng là người nước ngoài, món ăn do người nước ngoài đề ra còn dân ta chỉ là kẻ hầu bàn để đổi lấy bát cơm khô, tô canh nguội.
Tâm tư của một người xa quê
Ngày 30/4/2016

Bỏ được cụm từ « mất nước » tất nhiên sẽ thấy 2 chử « đồng hương » rất thời thượng tại hải ngoại cũng không thể chấp nhận. Trong ngôn ngữ Việt, « đồng hương » có ý cùng làng, cùng tỉnh. Người cùng sinh sống ở Huế gọi nhau đồng hương, kẻ lớn lên ở Vân Đình gọi nhau là đồng hương. Nếu người Việt hải ngoại gọi nhau là « đồng hương » thì hóa ra Tổ Quốc Việt Nam chỉ là một cái làng, cái tình nhỏ đâu đó trên trái đất hay sao ? Hơn nữa, đó cũng là một câu nói vô tình đã tách ta ra khỏi 90 triệu người đang sinh sống ở quê nhà vì chúng ta vẫn gọi họ là đồng bào chứ có bao giờ chúng ta nói đồng hương trong nước đâu. Không « mất nước » thì tất nhiên chúng ta vẵn là đồng bào với nhau bất chấp nơi ở. Đúng thế, chúng ta nên vứt bỏ 2 chử « đồng hương » để khôi phục lại 2 chử « đồng bào ». Chỉ 2 từ đơn giản nhưng nó gói ghém tất cả quá khứ hơn 4000 năm của Dân Tộc, nó là niềm hãnh diện riêng tư của Tộc Việt chúng ta vì có mấy sắc dân trên thế giới có thể gọi nhau bằng 2 chử « đồng bào », nó nói lên cái gắn bó ruột thịt, cùng giòng máu giữa người Việt với người Việt. Hơn nữa, trong sự giáo dục con cháu sinh ra tại nước ngoài, nếu dùng chử « đồng hương » đám trẻ sẽ thấy rằng chúng đồng hương vơi cô bé da trắng học cùng lớp, cậu bé da đen sống bên kia đường vì cùng sinh ra và lớn lên trong cùng thành phố chứ con cháu ta không đồng hương với Lý Thường Kiệt, Nguyễn Du hay Phan Bội Châu. Chúng không đồng hương với các nhân vật lich sử đó nhưng chúng gắn bố với họ vì cùng một giòng máu xuất phát từ truyền thuyết một mẹ trăm con. Tất cả đều là đồng bào với nhau.
« Đồng bào » chính là sợi dây nối kết quá khứ của Dân Tộc với thế hệ sinh ra tại quê người, nối kết người Việt nước ngoài với người Việt trong nước.
Có một vấn đề nan giải khác mà người Việt hải ngoại chưa nhận thức được một cách chính xác đó là lá cờ vàng. Lá cờ này không chỉ là biểu tượng của một chế độ chính trị đã qua đi với nhiều hay ít luyến tiếc, nó cũng không chỉ là biểu tượng của một quá trình đấu tranh quả cảm của quân dân miền Nam. Giá trị của nó cao quý hơn, thiêng liêng hơn vì đó là biểu tượng của sự chọn lựa xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập và tự do, đối nghịch với lá cờ đỏ tượng trưng cho sự chon lựa xây dựng một nước Việt Nam theo chủ nghĩa Mác Lê. Chúng ta tôn vinh lá cờ vàng không những vì cha con, anh em chúng ta đã nằm xuống cho lá cờ, không chỉ vì ta đă được lá cờ này bao che để có được một đời sống yên lành. Hơn thế, ta tôn vinh lá cờ vàng vì đó là biểu tượng của lý tưởng Dân Chủ, Tự Do mà thế hệ đi trước đã để lại cho chúng ta. Tôn vinh nó đương nhiên là ta phải hãnh diện phô trương nó, trân quý nó không khác gì người mộ đạo tôn trọng cuốn thánh kinh, pho tượng Phật hay Chúa. Nhưng tôn vinh đích thực là cố gắng sống cho đúng ý nghĩa của biểu tượng. Người phật tử chân chính tất nhiên luôn luôn cúng bái trước tượng Phật, người thiên chúa giáo quỳ lạy trước tượng Chúa là cái tối thiểu nhưng nếu họ cố gắng sống theo lời Phật dạy, Chúa khuyên thì họ mới đích thực là người mộ đạo. Lá cờ vàng nếu được cho là biểu tượng của lý tưởng Tự Do và Dân Chủ thì cách tôn vinh đứng đắn nhất phải là tôn trọng quyền tự do của mọi người và sinh hoạt trong tinh thần dân chủ. Nhưng tiếc thay sự thật không thế. Ai không chào cờ, không đeo lá cờ lập tức bị cho là thân cộng, là việt cộng nằm vùng phải lập tức khai trừ. Thái độ đó đi ngược lại ý nghĩa cao quý của lá cờ, của sự hy sinh dũng cảm của quân cán chính từ thời kỳ Quốc Gia Việt Nam cho đến nền đệ nhị Cộng hòa, của đảng viên các đảng quốc gia, của những người chết trên biển cả vì 2 chử Tự Do.
Tôn trọng quyền tự do chọn lựa của mỗi người là hình thức cao đẹp nhất để tôn vinh lá cá cờ vàng vậy ta phải manh dạn chấp nhận có người không thích lá cờ vàng, hơn thế nữa chấp nhận có người tôn vinh lá cờ đỏ vì họ cũng có thân nhân đã nằm xuống cho lá cờ đó, cũng được lá cờ đó bao che để có một đời sống an lành.

Mọi biến đổi, tốt hay xấu tại quê nhà từ ngày 30/04/1975 không bao giờ do hành động của những người yêu chuộng và đấu tranh cho Tự Do chủ động hay ảnh hưởng. Tất cả đều do Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định dựa vào tư tưởng Mác lê hay vì sức ép của tình hình chính trị, kinh tế thế giới và ngay tại đất nước.
Hơn 40 năm đã trôi qua từ ngày 30/4/1975, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn ngự trị và tung hoành đủ để nói lên khả năng làm lịch sử của các tổ chức đấu tranh. Thật vậy, từ biến cố đó cho tới giai đoạn đổi mới của chế độ, mọi đối kháng vũ trang hay không bạo động trong nước đều bị tiêu diệt vì đảng cầm quyền còn trong men say của chiến thắng, tự cho rằng mình là đỉnh cao trí tuệ nên đã đưa đẩy chất sám của đất nước vào lao tù, trại cải tạo hay bắt buộc phải ra đi. Với quan điểm đôc quyền yêu nước, đảng Cộng sản việt Nam đã mạnh tay triệt tiêu mọi đối kháng. Các tổ chức chính trị trước 1975 không thể tồn tại tại quê nhà cho dù đó là những tổ chức, những cá nhân có khuynh hướng thân Cộng Sản, điện hình là những thành viên không Cộng Sản trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Vì vậy, các đảng phái quốc gia chỉ có thể hiện hữu tại hải ngoại. Nhưng, măc dù có một quá khứ oanh liệt, và cũng có thể vì cái bề dày lich sử đó, các tổ chức này đã không thấy được cuộc đấu tranh sau ngày 30/04/1975 không giống cuộc đấu tranh thời kháng Pháp hay khi đất nước phân chia và miền Nam có được một chế độ chính trị tương đối cởi mở, tương đối tự do. Họ vẫn nhìn cuộc đấu tranh qua lăng kính củ và cùng với sự yếu kém về nhân lực trẻ và nguồn tài chánh èo ọt, trong suốt thời gian qua, lời nói của họ không biến thành hành động thực tiển và hiệu quả cho dù họ có đầy thiện chí và cố gắng. Trong các tổ chức sinh ra sau biến cố 30/04, đã có một vài tổ chức có nhân lực và tài lực dồi dào nhưng vì có quan niệm khởi đầu là muốn thắng Cộng sản, ta phải làm giống Cộng sản nên nếu người ủng hộ không ít thì kẻ chống đối cũng rất nhiều. Hơn nữa, một câu hỏi khác được đặt ra : nếu chưa nắm quyền đã giống Cộng Sản thì liệu ngày có quyền trong tay, họ có thể khác Cộng sản hay không.
còn tiếp

Thờ cúng tổ tiên không chỉ là dâng hiến một nén hương, một mâm cơm đầy hương vị. Có hiếu với cha mẹ không chỉ là biết vâng lời và nuôi dưỡng đấng sinh thành. Không, tôn thờ tổ tiên, hiếu với cha mẹ trong ý nghĩa đích thực của nó là làm sao cho cha ông hãnh diện về mình. Thờ cúng tổ tiên, báo hiếu cha mẹ, anh em đùm bọc nhau đồng nghĩa với sống có trách nhiệm với đồng bào ruột thịt, sống để tương lai con cháu ta không hỗ thẹn vì ta, sống cho xứng đáng với quá khứ, với gia tài cha ông để lại.
Người Việt chân chính hãy dám cất đầu lên, hãy dám dậy mà đi, đi xây dựng tình người, đi bảo vệ non sông, đi để thế hệ mai sau có một tương lai tươi sáng, đi để xóa bỏ cái hiện tại ô nhục.
Muốn thế, chúng ta phải dám nhìn vào sự thật, dám làm một cuộc cách mạng tư duy, dám vứt bỏ một số quan niệm mà vì thói quen ta cho là đúng, nhưng thực chất lại trói buộc chúng ta trong một thái độ chịu đựng, tiêu cực, không đem lại một kết quả gì cho cuộc tranh đấu chung, cuộc cách mạng toàn diện ắt phải có vì sự tồn vong của Dân Tộc.
Cái quan niệm đầu tiên phải vứt vào thùng rác của quá khứ đó là cụm từ « chống cộng ». Một việc làm rất khó cho những ai đã bỏ hết cuộc đời vào công cuộc đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ. Chống cộng hòan toàn đúng nhưng xét cho cùng, thái độ đó, thế đứng đó chỉ là hậu quả tất nhiên của lòng yêu nước. Vì yêu nước, thương dân ta mới chống lại chế độ Cộng Sản. Vậy tại sai lại lấy hậu quả để tự định nghĩa thế đứng của mình mà không lấy chính nguyên nhân. Cái từ « chống » tự nó đã đặt chúng ta vào vị trí bị động. Cộng Sản có làm gì đó ta mới chống. Một đại diện chế độ đi công du, ta biểu tình phản đối. Chế độ bắt bớ, tù đầy người đấu tranh ta vội vã ký thịnh nguyện thơ, ra tuyên bố đã kích vân vân và vân vân. Những hành động đó tất nhiên là cần thiết nhưng chỉ là phản ứng trước một hành động của chế độ. Ngoài trừ một vài tổ chức đấu tranh có đường hướng, có kế họach ngắn và dài hạn, tất cả những gì người Việt hải ngoại làm đều là phản ứng chứ không có tính cách tích cực. Nếu « chống cộng » là động lưc thúc dẩy chúng ta dấn thân thì khi Cộng sản không còn thì ta cũng cũng nghỉ xả hơi hay sao ? Nếu đảng Cộng Sản đổi tên, nhưng không đổi đường lối lãnh đạo và cai trị ta cũng ngừng tranh đấu hay sao ?
Trái lại nếu lấy lòng yêu nước làm kim chỉ nam thì dù chế độ mang tên gì chúng ta vẵn có trách nhiệm nhập cuộc khi bất công, tham nhũng, đàn áp vẵn còn. Vậy, chúng ta hãy hãnh diện tự nhận mình là người yêu nước thay vì chỉ là người « chống cộng ».
Đã là người yêu nước thì người Việt hải ngoại phải bỏ luôn 2 chử « mất nước ». Cụm từ này luôn được dùng để nói lên tâm trang kẻ tha hương, người tỵ nạn Cộng Sản. Nhưng chúng ta có thật sự mất nước hay không ? Nước Việt Nam, quê hương yêu dấu với hình cong chử S, vẫn hiện hữu cùng bao quốc gia khác trên thế giới, sao gọi là mất. Ta có mất chăng là mất quyền đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước theo quan niệm của riêng ta. Ta mất đi là mất một chế độ chính trị có tên là Việt Nam Cộng Hòa. Ta mất đi là mất một đường hương đấu tranh chống một chế độ toàn trị. Đó là những gì ta mất chứ ta không mất nước. Cho dù cụm từ « mất nước » có đúng đi nữa thì khi nói câu đó tự ý chúng ta đã tự ngăn cách chúng ta với đồng bào trong nước. 90 triệu người cùng giòng máu Lạc Hồng đang khổ đau trên quê hương, họ có nghĩ rằng họ « mất nước » hay không ? Chắc chắn là không.
Vậy nếu chúng ta muốn gắn bó với đồng bào trong nước, vẵn coi mình là người Việt Nam chân chính thì chúng ta không bao giờ mất nước, ít ra cho đến hiện nay.
còn tiếp

 

Tại quê nhà, từ khi có đổi mới cùng với cuộc cách mạng truyền thông qua mạng lưới internet, người dân bắt đầu cảm nhận được cái sự thật mà đảng và nhà nước đã nhồi sọ họ không phải là sự thật trái lại là một sự lường gạt vĩ đại chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Rồi với những khó khăn trong đời sống hằng ngày, cảnh bất công, đàn áp, tham nhửng khắp mọi nơi, khắp mọi ngành, một số người trong guồng máy hay ngoài guồng máy bắt đầu dám nói, dám có hành động bất tuân, bất phục. Là người Việt sống ở nước ngoài, chúng ta không có đủ dữ kiện và thẩm quyền để phê phán các cá nhân hay phong trào đấu tranh trong nước. Nhưng ít ra chúng ta cũng phải công nhận tinh thần yêu nước cao độ của họ vì hòan cảnh trong nước khó gấp vạn lần hoàn cảnh đấu tranh ở hải ngoại. Sự thiếu đoàn kết, nếu có, cũng là điều dễ hiểu.

Tại mất niềm tin ở các tổ chúc đấu tranh nên người dân trong và ngoài nước không dám hy sinh cho đại cuộc. Vì sự thờ ơ vô cảm của quần chúng khiến các tổ chức đấu tranh không phát triển đươc. Cái vòng lẩn quẩn này là lý do chính yếu để đảng Cộng sản Việt Nam tha hồ độc diễn tại quê nhà. Trong khi đó vận mệnh Dân Tộc chua bao giờ nguy đốn như ngày hôm nay. Thật vậy, nếu trước kia sự xung đột Quốc Cộng là vấn đề chọn lựa giữa hai phương thức xây dựng đất nước hoặc xây dựng một nước dân chủ và tự do dựa vào khối tư bản hoặc theo chiều hướng xã nghĩa dựa vào khối Cộng Sản, thì nay, vấn đề trầm trọng hơn.

 Sự chọn lựa ngày hôm nay cho toàn thể con dân đất Việt là hoăc tiếp tục để đảng Cộng sản tung hoành thì ta sẽ mất nước hoặc can đảm đứng lên để bảo vệ sự sinh tồn của Dân Tộc để con cháu chúng ta tiếp tục là người Việt Nam sống trên mãnh đất tên là Việt Nam và còn nói tiếng Việt Nam.

Hơn bao giờ hết cuộc đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ đồng nghĩa với sự đấu tranh cho sự sinh tồn của Dân Tộc. Làm sao chúng ta có thể thờ ơ, cúi đầu, im lặng khi thân thể mẹ Việt nam đang bị ngoại bang xẻo từng hòn đảo, chiếm từng ngọn đồi, cướp từng mảnh đất, phá hoại môi trường, đầu độc dân ta mỗi ngày, mỗi giờ. Đồng bào tại quê nhà, ngày hôm nay không sống mà đang chờ chết vì nếu không có tiền để mua ăn thì chết mà có tiền mua ăn thì sớm muộn cũng chết vì chất độc ở trong từng miếng ăn, từng ngụm nước, từng hơi thở.

Chúng ta căm thù ngoại bang vì hành động xâm lược của họ nhưng trách nhiệm là trách nhiệm của chúng ta. Khởi đầu đó là trách nhiệm của giới lãnh đạo đương thời. Họ luôn hô to vì dân, do dân và của dân, nhưng trong thực tế, chính họ đã dâng hiến quê hương cho người bạn phương bắc để đổi lấy những chương mục kếch sù tại các nước tư bản, những biệt thự hoành tráng tại các nước tân tiến. Họ không quan tâm đến sự an vui của nhân dân, sự sống còn của đất nước. Vấn đề của giới lãnh đạo ngày hôm nay chỉ là sự giàu có sung túc của chính họ, gia đình họ. Họ không còn tin vào chủ nghĩa Mắc Lê, họ chỉ tin vào đồng tiền. Họ đã lừa dối nhân dân và lừa dối ngay cả toàn thể đảng viên Cộng Sản đang bảo vệ cá nhân họ, thân quyến họ để họ tiếp tục vơ vét, bán đứng tương lai của toàn dân. Trách nhiệm sau đó là trách nhiệm của chúng ta vì chúng ta thấy vậy mà chúng ta im lặng, thờ ơ hay chấp nhận như một định mệnh không thể thay đổi. Hai chử Việt Nam thân thương không thể chỉ được thu gọn trong đời sống gia đình với bàn thờ tổ tiên ở phòng khách, với ngày Tết được tổ chức trang trọng, với ý muốn giáo dục con cháu trong tinh thần cổ truyền biết công cha, nghĩa mẹ. Không, hai chử Việt Nam gói ghém cả một gia tài quý báu của cha ông trên 4000 năm, với những trang sử oai hùng, với những tụi nhục của trên nghìn năm bắc thuộc, trăm năm đô hộ và bây giờ là sự tủi nhục vì chúng ta đang đồng lỏa với một thiểu số đang đưa đẩy chúng ta, con cháu chúng ta đến họa diệt vong.

còn tiếp